Chuyên gia "hiến kế" biến phụ phẩm nông, lâm nghiệp thành vật liệu carbon giá trị cao

Admin

15/10/2026 21:00

Từ phụ phẩm nông, lâm nghiệp, Đồng Nai và các tỉnh phía Nam có cơ hội phát triển vật liệu carbon giá trị cao, góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải.

Trong bối cảnh thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải, việc chuyển hóa phụ phẩm nông, lâm nghiệp thành vật liệu carbon giá trị cao đang mở ra hướng đi mới, góp phần nâng cao giá trị tài nguyên và tạo cơ hội phát triển công nghiệp xanh tại Đồng Nai và các tỉnh phía Nam. Tuy nhiên, để đưa công nghệ từ nghiên cứu vào sản xuất, cần lựa chọn phù hợp nguồn nguyên liệu, công nghệ chế biến và nhu cầu thị trường.

Người Đưa Tin đã có cuộc trao đổi với GS.TS Hoàng Viết Ngữ, Trường Đại học Công nghệ Queensland (Australia), về tiềm năng nguyên liệu, định hướng công nghệ và những giải pháp thúc đẩy thương mại hóa vật liệu carbon tại Việt Nam.

Tận dụng lợi thế nguồn nguyên liệu tại chỗ 

NĐT: Thưa GS.TS Hoàng Viết Ngữ, đâu là những lợi thế nổi bật của Đồng Nai và các tỉnh phía Nam trong phát triển, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ chuyển hóa phụ phẩm nông, lâm nghiệp thành vật liệu carbon giá trị cao?

Đồng Nai mở hướng nâng giá trị phụ phẩm nông, lâm nghiệp bằng công nghệ carbon - Ảnh 1.

GS.TS Hoàng Viết Ngữ, Trường Đại học Công nghệ Queensland (Australia).

GS.TS Hoàng Viết Ngữ: Việt Nam có tiềm năng lớn nhờ nguồn phụ phẩm nông, lâm nghiệp đa dạng. Tại Đồng Nai và các tỉnh phía Nam, những nguyên liệu như: gỗ cao su, vỏ hạt điều, vỏ cà phê, vỏ dừa và tre có thể được thu gom tập trung tại các cơ sở chế biến, giúp giảm chi phí đầu vào.

Bên cạnh đó, Đồng Nai có nền tảng sản xuất công nghiệp, thuận lợi cho việc phát triển các mô hình chế biến quy mô phù hợp. Nhu cầu vật liệu carbon trong xử lý nước, không khí phục vụ sản xuất và sinh hoạt cũng mở ra cơ hội thương mại hóa. Sự tham gia của các doanh nghiệp có mạng lưới thị trường quốc tế còn có thể hỗ trợ mở rộng xuất khẩu.

Tuy nhiên, mỗi loại phụ phẩm có đặc tính khác nhau nên cần lựa chọn công nghệ, quy mô sản xuất phù hợp. Đối với vật liệu cao cấp dùng trong pin, tụ điện, yêu cầu kỹ thuật phức tạp hơn, đòi hỏi sự phối hợp giữa doanh nghiệp, nhà khoa học và cơ quan quản lý cần được thúc đẩy ngay từ giai đoạn xác định bài toán nghiên cứu.

NĐT: Đoàn chuyên gia quốc tế dự kiến triển khai những hoạt động hợp tác nào để thúc đẩy nghiên cứu và chuyển giao công nghệ vào thực tiễn tại Việt Nam?

GS.TS Hoàng Viết Ngữ: Có 3 hướng cần ưu tiên. Thứ nhất, xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn phụ phẩm, gồm sản lượng, mùa vụ, địa điểm phân bố và chi phí thu gom. Đây là cơ sở để lựa chọn nguyên liệu, công nghệ và tính toán hiệu quả đầu tư.

Thứ hai, đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu, đào tạo và thử nghiệm quy trình xử lý, tinh chế nguyên liệu để chế tạo vật liệu carbon. Việt Nam đã có nền tảng sản xuất than sinh học, than hoạt tính, nhưng vật liệu carbon cứng đáp ứng yêu cầu sử dụng trong pin vẫn cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện công nghệ.

Thứ ba, triển khai các dự án thí điểm gắn với doanh nghiệp và thị trường tiêu thụ cụ thể. Sản phẩm cần có tiêu chuẩn chất lượng, khách hàng mục tiêu và phương án chi phí rõ ràng. Hiệu quả phải được đánh giá dựa trên khả năng tạo ra sản phẩm đạt yêu cầu với chi phí cạnh tranh, không chỉ ở sản lượng.

Công nghệ chuyển giao cũng cần phù hợp với nguồn nguyên liệu và năng lực vận hành tại địa phương, tránh áp dụng máy móc các dây chuyền quy mô lớn từ nước ngoài khi chưa đánh giá đầy đủ tính khả thi.

Gắn thương mại hóa với kinh tế tuần hoàn 

Đồng Nai mở hướng nâng giá trị phụ phẩm nông, lâm nghiệp bằng công nghệ carbon - Ảnh 2.

GS.TS Hoàng Viết Ngữ, Trường Đại học Công nghệ Queensland (Australia), chia sẻ tại hội thảo về tiềm năng chuyển hóa phụ phẩm nông, lâm nghiệp thành vật liệu carbon giá trị cao, góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải.

NĐT: Theo Giáo sư, cần những điều kiện gì về công nghệ, thị trường và chính sách để thương mại hóa vật liệu carbon, đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn và phát triển kinh tế tuần hoàn bền vững?

GS.TS Hoàng Viết Ngữ: Trước hết, cần xác định nhu cầu thị trường và mục đích sử dụng cuối cùng để lựa chọn sản phẩm, tiêu chuẩn chất lượng và quy mô sản xuất. Hoạt động nghiên cứu phải xuất phát từ bài toán thực tế của doanh nghiệp và khách hàng.

Bên cạnh đó, cần hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế kiểm định chất lượng và hành lang pháp lý minh bạch nhằm tạo niềm tin cho thị trường, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ mới.

Việc chuyển hóa phụ phẩm thành vật liệu carbon phải được đánh giá trên toàn bộ chuỗi giá trị, từ thu gom, xử lý nguyên liệu đến sản xuất, sử dụng sản phẩm và kiểm soát tác động môi trường. Chỉ khi bảo đảm hiệu quả kinh tế đi đôi với yêu cầu môi trường, mô hình này mới có thể đóng góp thiết thực cho kinh tế tuần hoàn.

Do đó, cần sự phối hợp giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà đầu tư để đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, hình thành thị trường tiêu thụ ổn định và nâng cao giá trị phụ phẩm nông, lâm nghiệp.

Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!