GDP bình quân từng xếp thứ 185/188, Việt Nam tiến vào top 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới và định hướng thành nước phát triển ra sao?

Admin

24/03/2026 08:23

Từ một quốc gia nằm trong nhóm 20 nước nghèo nhất, sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã vào top 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Đây là kết quả của quyết định chuyển đổi từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường – một quá trình mà TS. Nguyễn Đình Cung gọi là hành trình đổi mới mang tính lịch sử.

Từ nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới đến nền kinh tế lớn thứ 32 thế giới

Đầu thập niên 1980, Việt Nam là một nền kinh tế còn nhiều khó khăn, vận hành theo mô hình kế hoạch hóa tập trung với những hạn chế ngày càng bộc lộ rõ. Tuy nhiên, năm 1986 trở thành dấu mốc đặc biệt khi công cuộc Đổi mới được khởi xướng. Theo TS. Nguyễn Đình Cung, đó là cột mốc mang tính “bẻ gãy”, khi tư duy cũ không còn phù hợp và buộc phải thay bằng một hướng đi mới.

Vào thời điểm đó, Việt Nam nằm trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, GDP bình quân chỉ dao động từ 125 đến 200 USD/năm (xếp thứ 185/188 thế giới), theo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở việt nam. Thậm chí, tỷ lệ lạm phát thời điểm tháng 12/1986 lên đến 774,7%.

Trong bối cảnh đó, Đại hội lần thứ VI đã đưa ra một quyết định mang tính bước ngoặt: Đổi mới. Đó không chỉ là đổi mới kinh tế, mà là một cuộc cách mạng về tư duy, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Sau 40 năm, kinh tế Việt Nam đã thay đổi rõ rệt. Riêng trong giai đoạn 2016–2025, quy mô GDP gần như tăng gấp đôi, đạt trên 510 tỷ USD. Thu nhập bình quân đầu người từ mức rất thấp trong những năm đầu Đổi mới đã tăng lên hơn 5.000 USD/người.

Vị thế của Việt Nam trong kinh tế thế giới cũng được cải thiện đáng kể. Việt Nam hiện nằm trong nhóm 32 nền kinh tế lớn nhất toàn cầu, đồng thời thuộc top 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Từ vị thế từng bị bao vây, cấm vận, tính đến tháng 10/2024, Việt Nam đã ký kết 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) với hơn 60 đối tác.

Nếu như trước đây, sản xuất trong nước chủ yếu chỉ đáp ứng các nhu cầu thiết yếu, thì hiện nay Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo và điện tử hàng đầu thế giới.

Sau cú “bẻ lái” lịch sử, Việt Nam mở đường cho động lực quan trọng nhất của nền kinh tế

Để đạt được những thành tựu như vậy, giải phóng sức sản xuất và tạo không gian phát triển cho các thành phần kinh tế trở thành chìa khóa của 40 năm Đổi mới.

Theo TS. Nguyễn Đình Cung, xét cho cùng, đổi mới kinh tế ở Việt Nam là quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Quá trình này diễn ra trên hai trục song song: cải cách thể chế trong nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Điểm cốt lõi là Việt Nam cần chấp nhận các quy luật khách quan của thị trường, từng bước thay thế cơ chế xin – cho bằng cơ chế vận hành dựa trên cạnh tranh, giá cả và tín hiệu thị trường.

Sự thay đổi này tạo ra bước chuyển mang tính nền tảng cho toàn bộ nền kinh tế. Sau Đổi mới, các thành phần kinh tế ngoài nhà nước từng bước được thừa nhận, tham gia sâu hơn vào hoạt động sản xuất – kinh doanh. Đây là sự thay đổi về bản chất trong tư duy quản lý: từ mô hình Nhà nước trực tiếp làm thay sang mô hình Nhà nước kiến tạo thể chế, tạo lập môi trường để người dân và doanh nghiệp được làm những gì pháp luật không cấm.

Trong tiến trình đó, một trong những thay đổi quan trọng nhất là sự trỗi dậy của khu vực kinh tế tư nhân. Từ chỗ chưa được nhìn nhận đầy đủ trong giai đoạn đầu, khu vực này từng bước được thừa nhận, khuyến khích phát triển và ngày càng được xác lập rõ ràng hơn như một động lực quan trọng của nền kinh tế.

Tác động của khu vực tư nhân không chỉ nằm ở số lượng doanh nghiệp hay tỷ trọng đóng góp vào GDP, mà sâu hơn là ở việc làm thay đổi cấu trúc thị trường và cách nền kinh tế vận hành. Trong nhiều lĩnh vực, sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân đã tạo ra cạnh tranh thực chất, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và thúc đẩy nâng cấp chất lượng.

Trong lĩnh vực viễn thông, sự tham gia của các doanh nghiệp công nghệ và viễn thông đã góp phần biến một dịch vụ từng mang tính xa xỉ – khi vào những năm 2000, chưa đến 5% dân số được tiếp cận – trở thành dịch vụ phổ cập. Ở lĩnh vực hàng không, sự xuất hiện của các hãng tư nhân giúp mở rộng đáng kể cơ hội tiếp cận dịch vụ bay, tạo thêm lựa chọn cho người dân và buộc thị trường vận hành cạnh tranh hơn.

Đáng chú ý hơn, trong lĩnh vực sản xuất, nhiều doanh nghiệp tư nhân đã từng bước đi vào những ngành đòi hỏi vốn lớn, công nghệ cao và năng lực quản trị phức tạp. Từ thép đến ô tô điện, khu vực tư nhân cho thấy doanh nghiệp Việt hoàn toàn có thể tham gia và làm chủ những mắt xích có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị công nghiệp, qua đó góp phần định vị lại năng lực sản xuất của Việt Nam trên bản đồ công nghiệp toàn cầu.

Quan trọng hơn, sự lớn lên của khu vực tư nhân không chỉ thể hiện ở quy mô đầu tư hay đóng góp ngân sách, mà còn ở hiệu quả phân bổ nguồn lực. Khi cạnh tranh tăng lên, doanh nghiệp buộc phải tối ưu chi phí, đổi mới công nghệ, nâng chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Chính quá trình đó đã góp phần đưa thị trường Việt Nam từ giai đoạn mở cửa sang giai đoạn nâng cấp về chất lượng và công nghệ..

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, vai trò của khu vực tư nhân sẽ còn quan trọng hơn.

Từ góc nhìn đó, để thấy được sự đóng góp của các doanh nghiệp tư nhân cùng sự hỗ trợ của Nhà nước, tuyến bài “40 năm Đổi Mới” sẽ tiết lộ các cú chuyển mình của kinh tế Việt Nam từ góc nhìn chuyên gia và sự thay đổi của các doanh nghiệp tư nhân trong quá trình thúc đẩy kinh tế quốc gia.

Bài số 1: Để Việt Nam vươn mình với ‘Đổi mới 2.0’, chuyên gia Phạm Chi Lan phân tích cách giúp có nhiều ‘Thánh Gióng’ với kinh tế tư nhân