
Ảnh minh họa
Trong bối cảnh xung đột vùng Vịnh đang diễn ra, diễn biến trên thị trường khá phức tạp, bao gồm cả thị trường vàng, thị trường chứng khoán hay thị trường nguyên liệu như xăng dầu. Ông có đánh giá như thế nào về những diễn biến này?
Thứ nhất, chúng ta thấy giá dầu thế giới đang tăng. Việt Nam cũng bị ảnh hưởng trực tiếp. Đó là logic dễ hiểu. Người ta thấy rằng đây là lần đứt đoạn chuỗi cung ứng lớn nhất trong các lần. Vấn đề không phải là nguồn cung dầu mà là luồng vận chuyển dầu qua eo biển.
Nhưng nếu theo logic như vậy, bất ổn kinh tế và chính trị sẽ khiến chứng khoán giảm sâu và giá vàng tăng. Tuy nhiên, có vẻ như giá dầu thế giới không phải là một đợt tăng dài hạn. Thậm chí trong dự báo một vài tuần tới sẽ không tăng theo một chiều mà có thể tăng rồi đảo chiều.
Gần đây, giá vàng đang phản ứng rất ngược với logic mà mọi người nghĩ, tức là đáng lẽ tăng thì bây giờ có những lúc giá vàng quay đầu. Chứng khoán Mỹ cũng khi giảm nhưng sau đó lại quay ngược lại tăng.
Tất cả những diễn biến chúng ta quan sát thấy rằng có vẻ như các nhà đầu tư và đầu cơ họ thấy tình hình không diễn biến theo kịch bản xấu của những lần xung đột vùng Vịnh trước đó. Trong những lần xung đột vùng Vịnh, mặc dù lần này là lớn nhất, kinh khủng nhất so với các lần trước nhưng người ta không nghĩ rằng nó sẽ đi theo chiều hướng kinh tế xấu và bất ổn nhiều ngày. Nên chúng ta cũng quan sát diễn biến của các nhà đầu tư trên các thị trường chứng khoán, hàng hóa và ngay cả dầu cũng có những biến động lên xuống trong ngắn hạn.
Chúng ta cũng thấy thị trường chứng khoán đầu tuần giảm mạnh do phản ứng của giá dầu tăng. Trực tiếp là giá dầu Việt Nam tăng mới là quan trọng. Bộ Công Thương cũng đang cho các công ty đầu mối phân phối dầu tự công bố giá dựa trên nguồn nhập của họ.
Tất nhiên, bên này lo lắng và bán nhiều nhưng bên kia họ sẵn sàng mua. Thực tế thị trường cũng phản ánh đánh giá của nhà đầu tư là nó đi theo kịch bản của các thị trường chứng khoán thế giới, tức là sự tác động xấu của giá dầu đối với kinh tế Việt Nam có thể không dài hạn. Nó không phải là tác động mạnh gây ra khó khăn lớn cho kinh tế trong bối cảnh Việt Nam vẫn có những điều kiện để phát triển. Nên dự đoán thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ đi ngang, tức là có lên có xuống trong quý 2 này, chứ không thể đi xuống quá sâu.
Căng thẳng Trung Đông đẩy giá dầu tăng mạnh, điều này đã tác động đến Việt Nam. Nhiều chuyên gia phản ánh về áp lực đối với lạm phát hay chi phí sản xuất. Quan điểm của ông về vấn đề này thế nào?
Thứ nhất, tất nhiên giá dầu tăng tác động ngay tới chi phí vận chuyển và hàng hóa. Tuy nhiên, dòng tiền tiêu dùng Việt Nam hiện nay đang có sự quản lý khá tốt của Chính phủ.
Rõ ràng, Chính phủ mặc dù đưa ra chiến lược tăng trưởng trên 10% và đẩy mạnh đầu tư công, nhưng song song đó cũng đang kiểm soát các dòng vốn của ngân hàng ở mức thận trọng.
Cụ thể, trước đây Ngân hàng Nhà nước giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng một năm và các ngân hàng chủ động. Nhưng năm 2026, Ngân hàng Nhà nước đã giao chỉ tiêu theo từng quý. Nếu quý đó tăng vượt chỉ tiêu thì các ngân hàng không cho vay nữa. Điều này cho thấy Ngân hàng Nhà nước chủ trương chung là vẫn cung tiền nhưng có quản lý, có kiểm soát.
Hai yếu tố đó cộng lại có khả năng không gây ra lạm phát cao. Chúng ta biết năm nay lạm phát tối đa có thể lên tới 4,5% trong những kịch bản xấu. Còn chủ trương của Nhà nước vẫn giữ ở mức 3,5 - 4%.
Giá dầu tính vào cấu thành hàng hóa có tăng nhưng việc tăng đó không tác động quá mạnh. Cộng thêm chính sách tiền tệ đang được Chính phủ quản lý thông qua Ngân hàng Nhà nước, khiến cho lạm phát mà chúng ta lo lắng sẽ không cao như các nhà chuyên gia đang dự báo.
Ông từng nhận định rằng, dù xung đột tại vùng Vịnh có thể gây thêm áp lực lên kinh tế Việt Nam thông qua giá dầu và các rủi ro toàn cầu, nhưng trong trung hạn, Việt Nam vẫn là “điểm sáng” trong mắt nhiều tập đoàn lớn trên thế giới. Vì sao ông lại đưa ra đánh giá như vậy?
Chúng ta biết, cách đây 8 năm, khi Tổng thống Donald Trump nhiệm kỳ một, Mỹ đã đưa ra chính sách chiến tranh thương mại với Trung Quốc. Mỹ muốn các công ty có sự chuyển dịch. Thứ nhất là sản xuất về Mỹ và thứ hai là việc chuyển dịch sản xuất không còn trung chuyển sản xuất dựa trên lắp ráp từ Trung Quốc. Từ giai đoạn đó, các tập đoàn lớn, các công ty lớn đã có những kế hoạch.
Trong đó, Việt Nam là một địa điểm thích hợp cho việc chuyển dịch một số sản xuất về Việt Nam thay vì ở Trung Quốc. Đó là câu chuyện tám năm trước và tiến trình vẫn tiếp tục. FDI của chúng ta mỗi năm đều tăng. Cụ thể năm 2025 thì ngay cả khi thuế quan của Mỹ cao, giải ngân FDI vẫn tăng hơn các năm trước và xuất khẩu vẫn tốt. Điều đó cho thấy Việt Nam càng ngày càng được các công ty lớn trên thế giới chọn.
Chúng ta quan sát rằng trong tiến trình mà xung đột vùng Vịnh tạo ra những rủi ro, rất nhiều nước có những bất ổn. Nhưng Việt Nam chúng ta rõ ràng tình hình an ninh kinh tế tốt, vững vàng. Điều đó làm tăng độ tin cậy cho các tập đoàn chuyển tới.
Dần dần, theo quan sát, họ sẽ chuyển tới những công ty mà thay vì lắp ráp, sẽ bắt đầu sản xuất những cấu kiện, phụ kiện sâu hơn trong tiến trình chuyển dịch mạnh chuỗi cung ứng từ Trung Quốc. Như vậy, Việt Nam chúng ta với địa chính trị ổn định và vị trí đã được chọn phù hợp, càng ngày càng thu hút thêm.
Thu hút FDI đó ở mức gia tăng giá trị, tạo ra nền tảng cho tiến trình công nghiệp hóa. Mặc dù một số chuyên gia lo lắng về việc xuất khẩu của chúng ta quá phụ thuộc vào FDI, nhưng trong tổng thể, chính những công ty FDI càng ngày càng đầu tư sâu vào Việt Nam thì tạo cho tiến trình công nghiệp hóa chúng ta thuận lợi. Từ đó tác động tới những lĩnh vực khác của kinh tế. Đó là nhận định rằng năm 2027-2028 chúng ta sẽ thuận lợi hơn trước từ xung đột vùng Vịnh. Chiến lược của các tập đoàn sẽ nhìn thấy rộng hơn và thấy tính rủi ro để họ càng tăng cường chọn Việt Nam.





Hoặc