Chính phủ đã ban hành Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, nghị định được ban hành ngày 15/7/2026, có hiệu lực từ ngày 10/9/2026. Kể từ thời điểm này, Nghị định 12/2022/NĐ-CP đang điều chỉnh cùng lĩnh vực sẽ hết hiệu lực.
Một nội dung các công ty, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý là quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và làm thêm giờ (Over Time).

Ảnh minh họa
Ép làm thêm vượt giới hạn có thể bị phạt tới 75 triệu đồng
Theo Điều 24 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, người sử dụng lao động huy động người lao động làm thêm giờ vượt quá số giờ pháp luật cho phép sẽ bị phạt theo số người bị vi phạm.
Cụ thể, mức phạt từ 5-10 triệu đồng nếu vi phạm đối với 1-10 người lao động; từ 10-20 triệu đồng nếu vi phạm đối với 11-50 người; từ 20-40 triệu đồng nếu vi phạm đối với 51-100 người; từ 40-60 triệu đồng nếu vi phạm đối với 101-300 người.
Mức cao nhất, từ 60-75 triệu đồng, được áp dụng khi vi phạm đối với từ 301 người lao động trở lên. Cùng nhóm mức phạt này còn có hành vi không bảo đảm cho người lao động nghỉ trong giờ làm việc hoặc nghỉ chuyển ca theo quy định.
Cũng theo Điều 24, trường hợp huy động người lao động làm thêm giờ mà không được họ đồng ý, người sử dụng lao động là cá nhân bị phạt từ 20-25 triệu đồng. Nếu doanh nghiệp là tổ chức vi phạm, mức phạt tương ứng có thể từ 40-50 triệu đồng.
Quy định này không áp dụng với một số trường hợp đặc biệt tại Điều 108 Bộ luật Lao động, chẳng hạn thực hiện lệnh huy động, động viên nhằm bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc thực hiện công việc để bảo vệ tính mạng, tài sản trong phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm và thảm họa.

Ảnh Báo Chính phủ

Doanh nghiệp chỉ được tổ chức làm thêm khi đủ điều kiện
Bộ luật Lao động quy định người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng các điều kiện về sự đồng ý của người lao động và giới hạn thời gian làm thêm.
Sự đồng ý phải liên quan đến thời gian, địa điểm và công việc làm thêm. Vì vậy, doanh nghiệp không nên coi việc người lao động ở lại văn phòng, trả lời tin nhắn ngoài giờ hoặc thực hiện công việc theo yêu cầu của quản lý là đương nhiên đồng ý tăng ca.
Về giới hạn, tổng số giờ làm thêm của người lao động nhìn chung không được vượt quá 50% số giờ làm việc bình thường trong một ngày. Trường hợp áp dụng thời giờ làm việc bình thường theo tuần, tổng số giờ làm việc bình thường và làm thêm không quá 12 giờ trong một ngày.
Số giờ làm thêm cũng không được quá 40 giờ trong một tháng và thông thường không quá 200 giờ trong một năm. Một số ngành, nghề hoặc trường hợp đặc biệt được tổ chức làm thêm tới 300 giờ mỗi năm nhưng phải đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp luật.

Ảnh VTV
Nghị định 283 còn quy định phạt từ 2-5 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân nếu không thông báo bằng văn bản cho Sở Nội vụ nơi tổ chức làm thêm và nơi đặt trụ sở chính về việc làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm. Với doanh nghiệp là tổ chức, mức phạt có thể tăng lên 4-10 triệu đồng.
Không chỉ làm thêm, thời gian nghỉ cũng phải được bảo đảm
Bên cạnh giới hạn làm thêm giờ, doanh nghiệp phải bảo đảm quyền nghỉ hằng tuần, nghỉ hằng năm và nghỉ lễ, Tết của người lao động.
Theo Nghị định 283, hành vi vi phạm quy định về nghỉ hằng tuần, nghỉ hằng năm hoặc nghỉ lễ, Tết bị phạt từ 10-20 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân. Với doanh nghiệp, tổ chức, mức phạt tương ứng có thể từ 20-40 triệu đồng.
Hành vi không bảo đảm cho người lao động nghỉ việc riêng hoặc nghỉ không hưởng lương theo quy định cũng có thể bị phạt từ 2-5 triệu đồng đối với cá nhân và từ 4-10 triệu đồng đối với tổ chức.
Nguồn Nghị định 283/2026/NĐ-CP, Cổng TT Chính phủ





Hoặc