Mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra một bài toán cấp thiết về việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trả lời phỏng vấn trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ ngày 13/7, sau khi Việt Nam được Ngân hàng Thế giới xếp vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao, bà Mariam J. Sherman - Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và Lào nhấn mạnh, khi một quốc gia phát triển lên tầm cao hơn, bản chất của các thách thức tăng trưởng cũng sẽ thay đổi theo.
Trong đó, "bẫy thu nhập trung bình" là thách thức vô cùng lớn. Thực tế cho thấy nhiều quốc gia phải mất hàng chục năm, thậm chí mắc kẹt rất lâu mới có thể vươn lên nhóm thu nhập cao. Để duy trì đà phát triển trong tương lai, đại diện Ngân hàng Thế giới chỉ ra, Việt Nam cần thúc đẩy tăng trưởng dựa trên năng suất lao động, đổi mới sáng tạo, sự lớn mạnh của khối doanh nghiệp nội địa và khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao hơn trong toàn bộ nền kinh tế.
Tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp diễn ra vào ngày 18/7, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cũng đã nhấn mạnh nhiệm vụ khơi thông và huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế, trong đó trọng tâm là khu vực doanh nghiệp cần được đặt trong tổng thể yêu cầu thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, từ đó, nâng cao năng lực nội sinh, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.
Yêu cầu này đòi hỏi sự thay đổi căn bản trong tư duy nhìn nhận vai trò của lực lượng doanh nghiệp nội địa. Một doanh nghiệp lớn có thể được "nhận diện" bằng doanh thu, lợi nhuận, vốn hóa hay tổng tài sản. Nhưng để trở thành một Doanh nghiệp Quốc gia, quy mô ấy phải được chuyển hóa thành những năng lực có giá trị vượt ra ngoài chính doanh nghiệp.
Muốn có Doanh nghiệp Quốc gia, trước hết phải có năng lực cạnh tranh thực sự
Nhìn vào bức tranh tổng thể, mỗi doanh nghiệp lớn tại Việt Nam đang tích lũy những năng lực khác nhau, trong đó có những năng lực có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi của chính doanh nghiệp. Điểm đáng chú ý là nhiều trong số đó cũng chính là những năng lực mà nền kinh tế Việt Nam cần tích lũy ở cấp độ quốc gia.
Ở lĩnh vực công nghệ, FPT là một ví dụ. Xuất phát từ viễn thông, phần mềm, FPT cũng đẩy mạnh năng lực tự nghiên cứu và làm chủ công nghệ cao, phức tạp như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ bán dẫn, UAV, Quantum AI & Cyber Security… Đây đều là những lĩnh vực đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn, đội ngũ chuyên gia công nghệ trình độ cao và sự kiên trì đầu tư, nghiên cứu trong dài hạn của doanh nghiệp.
Vingroup lại thể hiện khả năng tổ chức nguồn lực để bước vào những lĩnh vực công nghiệp - công nghệ mới và hướng tới thị trường toàn cầu. Từ sản xuất xe điện đến trí tuệ nhân tạo (AI), mỗi bước đi đều đặt ra những yêu cầu khắt khe về vốn, quản trị, cũng như tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Khả năng tổ chức nguồn lực để bước vào những lĩnh vực mới chính là một năng lực quan trọng, giúp mở ra những hướng đi tăng trưởng mới.
Ở lĩnh vực hàng tiêu dùng và sản xuất, Vinamilk hay Masan đã thể hiện năng lực chế biến quy mô lớn và khả năng làm chủ chuỗi cung ứng và phát triển thương hiệu. Một sản phẩm thương hiệu Việt muốn giữ vững vị thế trước các tập đoàn đa quốc gia cần dựa trên một hệ thống sản xuất đồng bộ và mạng lưới phân phối rộng khắp. Đây là những năng lực nền tảng góp phần củng cố khả năng tự chủ của thị trường nội địa, được hình thành qua hàng thập kỷ đầu tư, cạnh tranh và nâng cấp năng lực sản xuất.

Trong khi đó, các ngân hàng như Techcombank là ví dụ điển hình cho việc xây dựng năng lực về nguồn vốn và đầu tư sâu vào nền tảng công nghệ, dữ liệu. Việc xử lý khối lượng giao dịch lớn và cá nhân hóa dịch vụ trên nền tảng số không chỉ giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả vận hành, mà còn cho thấy năng lực xây dựng và làm chủ các nền tảng công nghệ, dữ liệu phục vụ hoạt động tài chính quy mô lớn.

Ở mảng phát triển đô thị, những nhà phát triển như Masterise Group đã tích lũy năng lực kiến tạo hệ sinh thái đô thị phức hợp quy mô lớn. Trên thực tế, việc triển khai các dự án phức tạp đòi hỏi khả năng tích hợp đồng bộ từ quy hoạch, kiến trúc, tài chính, xây dựng đến khả năng vận hành. Qua từng công trình, doanh nghiệp không chỉ nâng cao kỹ năng quản trị dự án mà còn đưa các tiêu chuẩn quốc tế vào thị trường nội địa.
Năng lực của một doanh nghiệp chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo hiệu ứng lan tỏa
Năng lực của doanh nghiệp chỉ thực sự trở thành giá trị đối với nền kinh tế khi vượt ra khỏi ranh giới của chính doanh nghiệp, thông qua khả năng kết nối và lan tỏa tới các mắt xích xung quanh: nhà cung cấp, người lao độ ng, đối tác, doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và toàn bộ hệ sinh thái ngành.

undefined
Trả lời phỏng vấn Cổng thông tin điện tử Chính phủ ngày 5/8, TS. Nguyễn Sĩ Dũng - nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội đã nhấn mạnh: "Điều làm nên một doanh nghiệp kiến tạo không nằm ở quy mô tài sản hay doanh thu mà ở khả năng tạo ra những năng lực phát triển mới, với giá trị lan tỏa vượt ra ngoài phạm vi của chính doanh nghiệp đó".
Trong lĩnh vực công nghệ, sự lan tỏa này có thể đến từ chính quá trình R&D. Viettel, FPT … không chỉ tạo ra sản phẩm thương mại, mà còn góp phần hình thành đội ngũ kỹ sư chất lượng cao và đưa những chuẩn mực công nghệ mới vào thị trường.
Tương tự, một ngân hàng không chỉ đơn thuần đóng vai trò cung cấp dịch vụ tài chính. Khi một định chế như Techcombank, EVN, Petrolimex … tối ưu hóa nền tảng tài chính và quản trị dữ liệu, khả năng phân bổ và cung ứng vốn có thể được nâng cao, giúp nguồn lực tài chính đến với các hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn. Từ đó, tạo nguồn lực vốn vững chắc cho doanh nghiệp, thúc đẩy sự tăng trưởng bền vững của các ngành kinh tế.
Trong khi đó, khả năng tạo ra giá trị của những doanh nghiệp phát triển đô thị như Masterise Group lại được ghi nhận qua việc kiến tạo nên các không gian kinh tế mới. Một khu đô thị được quy hoạch bài bản không chỉ dừng lại ở giá trị bất động sản đơn thuần, mà còn thúc đẩy hạ tầng giao thông kết nối, mở ra không gian phát triển cho nhiều lĩnh vực như thương mại, bán lẻ, dịch vụ, y tế, giáo dục…
Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có thể tự mình tạo ra toàn bộ năng lực mà một nền kinh tế cần. Giá trị của doanh nghiệp lớn vì thế không chỉ nằm ở những gì doanh nghiệp sở hữu, mà còn ở những gì năng lực ấy tạo ra bên ngoài chính doanh nghiệp: một nhà cung cấp được nâng chuẩn, một đội ngũ nhân lực được đào tạo, một công nghệ được làm chủ, một dòng vốn được phân bổ hiệu quả hơn hay một không gian kinh tế mới được hình thành.
Ở cấp độ đó, quy mô chỉ là điểm khởi đầu. Điều làm nên một "Doanh nghiệp Quốc gia" là khả năng biến năng lực riêng thành năng lực chung - để sức mạnh tích lũy bên trong doanh nghiệp trở thành một phần năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Khi những năng lực ấy được kết nối và cộng hưởng giữa các lĩnh vực, sức mạnh của từng doanh nghiệp không còn tồn tại biệt lập mà cùng góp phần tạo nên nội lực cho Việt Nam trên hành trình hướng tới mục tiêu phát triển đến năm 2045.





Hoặc