Nhân Ngày Văn hóa Việt Nam (24/11), VietNamNet giới thiệu tuyến bài 3 kỳ Động lực mới cho sức mạnh nội sinh và khát vọng dân tộc.
Tuyến bài đi sâu phân tích bước ngoặt thể chế hóa văn hóa thành trụ cột phát triển ngang hàng với kinh tế, thẳng thắn nhận diện những thách thức thực tiễn trong bài toán thụ hưởng của nhân dân, đồng thời gợi mở các giải pháp chiến lược nhằm giải phóng nguồn lực sáng tạo và biến di sản thành tài sản trong kỷ nguyên mới.
Nối dài khát vọng "Văn hóa soi đường cho quốc dân đi"
Tháng 11/2026 ghi dấu một bước ngoặt khi lần đầu tiên, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương trong Ngày Văn hóa Việt Nam. Quyết định này không đơn thuần tạo thêm một khoảng nghỉ trong niên lịch lao động mà hàm chứa thông điệp chính trị - xã hội mang tầm vóc chiến lược của Đảng và Nhà nước trong kỷ nguyên mới.
Từng có không ít cái nhìn phiến diện khi coi văn hóa chỉ là "lĩnh vực tiêu tiền" hay những hoạt động bề nổi mang tính "cờ đèn kèn trống". Cách tiếp cận ấy vô hình trung đẩy văn hóa vào thế bị động, phụ thuộc vào nguồn ngân sách hạ nguồn và chưa được đầu tư tương xứng với tiềm năng.
Trở lại lịch sử 80 năm trước, vào ngày 24/11/1946, giữa muôn vàn gian khó của thời kỳ tiền chiến, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất đã được tổ chức. Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết luận điểm mang tính thời đại: "Văn hóa soi đường cho quốc dân đi".
80 năm sau, việc luật hóa ngày 24/11 thành một ngày nghỉ lễ là sự nối dài khát vọng, đánh dấu bước tiến căn bản trong tư duy phát triển. Văn hóa không còn là thành tố phụ trợ mà chính thức khẳng định vị thế nền tảng tinh thần, là động lực nội sinh và là trụ cột phát triển ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội.
Nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hồ Anh Tuấn kể, trong quá trình tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa 8 để xây dựng Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, nhóm soạn thảo đã đề xuất quan điểm đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị và xã hội.
Quan điểm này từng vấp phải nhiều ý kiến tranh luận từ các nhà nghiên cứu và chuyên gia gạo cội. Ông cho hay, thực tế lúc đó cho thấy, văn hóa chưa được trả về đúng vị trí và vai trò vốn có. Lý thuyết quan trọng nhưng thực tế kinh phí đầu tư cho văn hóa theo quy định chỉ khoảng 1,8% ngân sách, khi tổng kết thực tiễn số địa phương dành khoảng 1% kinh phí cho văn hóa là rất ít.
"Vì vậy, việc đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị là bước đi thiết thực nhất để văn hóa không bị coi nhẹ, được quan tâm và đầu tư tương xứng. Tuy nhiên, về bản chất lâu dài, văn hóa vẫn giữ vai trò nền tảng, soi đường và định hướng", ông Tuấn nhấn mạnh.
Sự ra đời của Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026 đã xóa tan định kiến đó. Khi Nhà nước trao cho toàn dân thời gian cùng sự đảm bảo về kinh tế để nghỉ ngơi và sinh hoạt văn hóa, đó cũng là lúc quyền tiếp cận, thụ hưởng và sáng tạo giá trị tinh thần của người dân được thể chế hóa một cách thực chất nhất.
Nghệ nhân H’Hoa Niê KSơr.
Ý nghĩa của bước ngoặt thể chế này không dừng lại ở những văn bản chính sách mà đã chạm tới từng chủ thể văn hóa ở cơ sở.
Tại lễ phát động hưởng ứng Ngày Văn hóa Việt Nam do TP Hà Nội tổ chức, nghệ nhân H’Hoa Niê KSơr (dân tộc Ê Đê, tỉnh Đắk Lắk) bày tỏ sự xúc động sâu sắc với phóng viên VietNamNet. Thông qua các sự kiện được tổ chức trong Ngày Văn hóa Việt Nam, nguyện vọng thiết tha của chị là làm sao để văn hóa Ê Đê không chỉ bó hẹp trong phạm vi tỉnh mà có thể được quảng bá rộng rãi đến người dân trên khắp mọi miền Tổ quốc.
“Tôi mong muốn giới thiệu từ tiếng chiêng, tiếng trống, các làn điệu dân ca, các loại nhạc cụ truyền thống cho đến nét văn hóa mẫu hệ độc đáo của dân tộc mình. Không chỉ là văn hóa tinh thần, chúng tôi còn muốn mang đến những sản phẩm nông nghiệp đặc trưng gắn liền với đời sống của bà con Đắk Lắk như cà phê, ca cao...”, nghệ nhân H’Hoa Niê KSơr chia sẻ.
Bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản, Hàn Quốc
Nhìn ra thế giới, việc lựa chọn một mốc thời gian trong năm để quy tụ và tôn vinh sức mạnh tinh thần toàn dân không phải câu chuyện mới, mà là bài học thành công của nhiều quốc gia tiên tiến.
Nhật Bản đã có Ngày Văn hóa từ năm 1948, biến ngày này thành dịp chính phủ vinh danh các cống hiến nghệ thuật, đồng thời mở cửa miễn phí toàn bộ hệ thống bảo tàng trên toàn quốc để kích cầu tư duy sáng tạo.
Hàn Quốc duy trì chính sách Ngày Văn hóa định kỳ và hỗ trợ người dân tiếp cận các không gian nghệ thuật với chi phí tối thiểu, tạo tiền đề để làn sóng Hallyu bứt phá thành mũi nhọn xuất khẩu hàng chục tỷ USD. Từ tháng 4 vừa qua, Hàn Quốc đã nâng tần suất Ngày Văn hóa lên mỗi thứ 4 hàng tuần để người dân dễ dàng tiếp cận các hoạt động nghệ thuật.
Nhà nước đặt con người và đời sống tinh thần vào trung tâm của mọi chính sách phát triển.
Việc Việt Nam có Ngày Văn hóa chính là bước đi hòa nhập với xu thế phát triển của văn minh thế giới, là phương thức định vị sức mạnh mềm và biến kho tàng di sản hàng ngàn năm thành tài nguyên phát triển cho tương lai.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương nhìn nhận: "Quyết định cho người lao động nghỉ hưởng nguyên lương vào Ngày Văn hóa Việt Nam là một bước tiến mang tính lịch sử. Thông điệp lớn nhất ở đây là Nhà nước đặt con người và đời sống tinh thần của con người vào trung tâm của mọi chính sách phát triển. Nghỉ hưởng lương không phải sự ưu ái thuần túy mà là khoản đầu tư chiến lược nhằm tái tạo sức lao động và nâng cao chất lượng sống cho nhân dân".





Hoặc