
Ảnh minh họa
Theo Cổng thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục trưởng Cục Địa chất và Khoáng sản cho biết, năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án Tây Bắc. Đây là một trong những đề án điều tra địa chất cơ bản lớn nhất cả nước, có quy mô rộng, đối tượng đa dạng, thời gian thực hiện kéo dài gần 8 năm.
Kết thúc vào năm 2024, Đề án Tây Bắc đã hoàn thành toàn bộ khối lượng được giao. Nổi bật là các đơn vị thực hiện Đề án đã lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 trên 13.081 km². Vào tháng 3/2025, kết quả Đề án "Điều tra tổng thể về khoáng sản và hoàn thiện nên bản đồ địa chất tỷ lệ 1/50.000 vùng Tây Bắc phục vụ quy hoạch phát triển bền vững kinh tế xã hội" (Đề án Tây Bắc) được công bố.
Một thành tựu quan trọng của Đề án là đã phát hiện và đánh giá 110 mỏ khoáng sản, gồm 25 loại khác nhau như thiếc-wolfram, vàng, đồng, antimon, đá mỹ nghệ, đá vôi công nghiệp, đặc biệt có đất hiếm… Theo Báo cáo mới nhất của Cục Khảo sát địa chất Mỹ, Việt Nam có khoảng 3,5 triệu tấn, trong khi Trung Quốc có trữ lượng lên tới 44 triệu tấn.
Đáng chú ý, Trung Quốc từng 2 lần xúc tiến hợp tác hỗ trợ khai thác loại khoáng sản này. Vào tháng 4/2024, tại thủ đô Bắc Kinh, làm việc với lãnh đạo Việt Nam, một Tập đoàn CREG đã bày tỏ mong muốn được hợp tác khai thác, chế biến loại khoáng sản này tại Việt Nam. Đáng chú ý, đây là lần thứ hai Tập đoàn Trung Quốc ngỏ lời, trước đó, tại buổi làm việc với Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp vào 23/11/2023, CREG cũng đã mở lời mong muốn hợp tác.
Thực tế, không chỉ có giá trị trong lĩnh vực điện tử, loại khoáng sản này còn giữ vai trò quan trọng trong nhiều công nghệ mới, đặc biệt là ngành công nghiệp xe điện. Theo S&P Global, xe điện hiện đang là một xu hướng mới với nhiều dư địa để phát triển. Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) đã đưa ra ước tính về nhu cầu dầu toàn cầu sẽ bị thay thế bởi xe điện với doanh số đang bùng nổ. IEA cho biết, nhu cầu xe điện dự kiến tăng cao trong thập kỷ tới và làm thay đổi ngành công nghiệp ô tô toàn cầu và giảm đáng kể mức tiêu thụ dầu cho vận tải đường bộ.
Với dự báo về việc sử dụng xe điện gia tăng, các kim loại để sản xuất pin điện sẽ ngày càng được quan tâm như lithium, nickel, cobalt, graphite, đất hiếm.
Trong đó, Việt Nam sở hữu lượng graphite lớn. Graphite là một dạng carbon tự nhiên có cấu trúc tinh thể đặc trưng, sở hữu khả năng dẫn điện, dẫn nhiệt tốt và chịu được nhiệt độ cao. Loại vật liệu này được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như luyện kim, sản xuất vật liệu chịu lửa, điện cực, chất bôi trơn và đặc biệt là chế tạo pin lithium-ion.
Theo USGS, graphite tự nhiên được sử dụng trong sản xuất thép, vật liệu chịu lửa, chất bôi trơn và pin. Trong lĩnh vực lưu trữ năng lượng, vật liệu này cạnh tranh trực tiếp với graphite tổng hợp và là một trong những nguyên liệu quan trọng để sản xuất pin lithium-ion.
Với sự phát triển của xe điện, hệ thống lưu trữ năng lượng và các thiết bị điện tử, nhu cầu đối với graphite ngày càng được chú ý. Đáng nói, giá trị của loại khoáng sản này không chỉ nằm ở hoạt động khai thác quặng mà còn ở các công đoạn tuyển, tinh chế và chế biến sâu thành vật liệu có độ tinh khiết cao, đáp ứng tiêu chuẩn của ngành công nghiệp pin.
Theo USGS, tổng trữ lượng graphite tự nhiên toàn cầu ước tính khoảng 310 triệu tấn. Trung Quốc đứng đầu với 100 triệu tấn, tiếp đến là Brazil với 74 triệu tấn, Madagascar 27 triệu tấn, Mozambique 25 triệu tấn, Tanzania 18 triệu tấn và Nga 14 triệu tấn. Việt Nam sở hữu khoảng 9,7 triệu tấn, đứng thứ 7 thế giới.
Với khoảng 9,7 triệu tấn, Việt Nam chiếm xấp xỉ 3,1% tổng trữ lượng graphite tự nhiên toàn cầu. Dù còn khoảng cách đáng kể so với những quốc gia dẫn đầu như Trung Quốc và Brazil, con số này vẫn đưa Việt Nam vào nhóm 10 quốc gia sở hữu nguồn tài nguyên lớn nhất thế giới.
Tại Việt Nam, graphite tập trung chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Tuy nhiên, trong nhiều năm, hoạt động chế biến chủ yếu dừng ở các công đoạn tương đối đơn giản như nghiền và tuyển tách cơ học, nhằm nâng hàm lượng graphite từ khoảng 10-12% lên 80-90%. Phương pháp này chưa đủ để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng những yêu cầu khắt khe của các ngành công nghiệp công nghệ cao.
Cũng trong xu hướng xe điện, Niken là kim loại được chú trọng trong ngành sản xuất pin. Niken là một kim loại màu trắng bạc, bề mặt bóng láng, là một trong nhiều tài nguyên đang được săn đón trên thế giới.
Tại Việt Nam, theo Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ - Luyện kim (Bộ Công Thương), tổng trữ lượng và tài nguyên niken ở Việt Nam ước tính khoảng 3,6 triệu tấn niken kim loại. Trong đó, tỉnh nắm giữ lớn nhất là Thanh Hóa với hơn 3 triệu tấn niken. Cùng với đó, Sơn La có 420.523 tấn, và Cao Bằng có 133.677 tấn niken.
Trong đó phần lớn tài nguyên niken tồn tại ở dạng khoáng vật đi kèm trong quặng crôm như vùng mỏ crômit Cổ Định (Thanh Hóa), hiện chưa có giải pháp thu hồi hiệu quả. Quặng niken ở khu vực Sơn La và Cao Bằng chủ yếu là loại hình quặng niken - đồng xâm tán.
Theo Cục Thông tin, Thống kê (Bộ Khoa học và Công nghệ), với sự phát triển của khoa học công nghệ và nhu cầu quặng tinh niken ngày càng tăng, việc đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp với yêu cầu chế biến sâu trên thị trường thế giới là vô cùng cấp thiết. Tuy nhiên, đến năm 2021, Việt Nam vẫn chưa có tiêu chuẩn quốc gia cụ thể cho quặng tinh niken nói chung và quặng tinh niken sunfua nói riêng.
Thực tế, việc xây dựng tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng quặng tinh niken là cực kỳ cần thiết, không chỉ để quản lý hoạt động chế biến khoáng sản mà còn để thiết lập các quy định về đặc tính kỹ thuật, giúp phân loại và đánh giá sản phẩm.
Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả sản phẩm quặng tinh niken sunfua, đồng thời tạo cơ sở cho các doanh nghiệp định hướng sản xuất, lựa chọn công nghệ, đổi mới trang thiết bị, từ đó tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên khoáng sản niken và các khoáng sản đi kèm.





Hoặc